Đan sâm: “một vị thuốc bằng bốn vị Tứ vật” của YHCT
Đông y có câu “Nhất vị Đan sâm, công đồng Tứ vật thang” ý nói: một vị Đan sâm có tác dụng gần bằng cả bài Tứ vật thang (bài kinh điển bổ huyết, hoạt huyết gồm bốn vị)
Đây chính là minh chứng rõ nhất về sự kỳ diệu của vị thuốc dược mệnh danh là “thần dược” trị huyết bệnh
Đan Sâm vị đắng, tính hơi hàn
Quy vào Tâm, Tâm bào, Can
Công năng chính: hoạt huyết, khứ ứ, thông kinh, lương huyết, thanh tâm, an thần
YHCT cho rằng nhiều chứng đau nhức, kinh nguyệt rối loạn, mất ngủ có nền tảng là huyết ứ, tức máu vận hành không thông. Đan sâm lại có khả năng “giúp máu chảy thuận” mà tính lại không quá mạnh, thiên về mát nhẹ, nên được xem là vị hoạt huyết tương đối hiền
Thường dùng trong những trường hợp nào?
Đau ngực, đau thắt vùng tim do huyết ứ. Đây là ứng dụng nổi tiếng nhất. Trung Quốc có nhiều chế phẩm từ Đan sâm dùng hỗ trợ bệnh mạch vành, như bài Phục phương đan sâm.
Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, bế kinh. Đan sâm thuộc nhóm vị thuốc điều kinh quen thuộc.
Mất ngủ, hồi hộp, bứt rứt. Nhờ quy kinh Tâm và có tác dụng thanh tâm an thần.
Mụn nhọt, sưng đau. Dùng theo hướng lương huyết, tiêu ung.
Đau do ứ trệ, ví dụ đau vùng sườn, đau bụng, đau khớp có tính chất cố định.
kỵ dùng chung với Lê lô, không dùng cho người đang dùng thuốc chống đông, kinh nguyệt ra nhiều, rong kinh, người có xu hướng xuất huyết

